Thành tựu và Gương mặt tiêu biểu
Giải thưởng Viện Toán học năm 2017 được trao cho hai nhà khoa học là cựu sinh viên, học viên Trường ĐHKHTN

Năm 2017, Hội đồng Khoa học Viện Toán học đã nhận được nhiều hồ sơ rất xuất sắc của các ứng viên cho Giải thưởng Viện Toán học. Sau một quá trình lấy ý kiến phản biện từ các chuyên gia đầu ngành ở trong và ngoài nước cho tất cả các hồ sơ, bằng cách bỏ phiếu kín và với đa số phiếu tập trung, Hội đồng Khoa học đã chọn ra hai nhà Toán học trẻ để trao tặng Giải thưởng Viện Toán học năm 2017 là TS. Ngô Quốc Anh và TS. Nguyễn Duy Tân. Đặc biệt, cả hai nhà khoa học trẻ tài năng này đều là cựu sinh viên, học viên cao học của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN. 

GS. Vũ Ngọc Phát Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Toán học và GS. Phùng Hồ Hải Viện trưởng Viện Toán học trao giải thưởng Viện Toán học cho 2 nhà khoa học

TS. Ngô Quốc Anh sinh năm 1983, là cử nhân (2005) và Thạc sỹ (2007) của Trường ĐHKHTNHN, ĐHQGHN và Tiến sĩ ĐH Quốc gia Singapore (2013), hiện là giảng viên Khoa Toán-Cơ-Tin học, Trường ĐHKHTN. Lĩnh vực nghiên cứu của TS. Ngô Quốc Anh là giải tích hình học và phương trình đạo hàm riêng. Anh được trao Giải thưởng Viện Toán học năm 2017 vì những đóng góp xuất sắc của mình trong việc nghiên cứu phương trình Einstein với ràng buộc, bằng việc khảo sát các trường hợp độ cong trung bình là hằng, gần hằng và xa hằng.

TS. Nguyễn Duy Tân sinh năm 1981, là cử nhân (2003) và Tiến sỹ (2008) của Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN), hiện đang công tác tại Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam. Lĩnh vực nghiên cứu của TS. Nguyễn Duy Tân là Lý thuyết Galoa, nhóm đại số và đối đồng điều Galoa của chúng. Anh có những đóng góp xuất sắc trong việc nghiên cứu lý thuyết tích Massey trong lý thuyết đối đồng điều Galoa của trường và ứng dụng của chúng trong việc nghiên cứu nhóm Galoa tuyệt đối của trường, một trong những bài toán trung tâm của Lý thuyết Số hiện đại.

Giải thưởng Viện Toán học là giải thưởng dành cho những nhà Toán học trẻ làm việc tại Việt Nam và có thành tích đặc biệt xuất sắc trong nghiên cứu Toán học. Ứng viên của Giải thưởng này có tuổi đời không quá 40 tuổi, không nhất thiết là người Việt Nam nhưng phải đang làm việc (hoặc có vị trí làm việc) tại Việt Nam trong năm xét. Giải thưởng Viện Toán học được xét và trao tặng hai năm một lần, vào các năm lẻ.

Cụm công trình của TS. Ngô Quốc Anh:

1. Q.A. Ngo, X. Xu, Existence results for the Einstein-scalar field Lichnerowicz equations on compact Riemannian manifolds, Adv. Math. 230 (2012) 2378–2415.

2. Q.A. Ngo, X. Xu, Existence results for the Einstein-scalar field Lichnerowicz equations on compact Riemannian manifolds in the positive case, Bull. Inst. Math. Acad. Sin. (N.S.) 9 (2014) 451–485.

3. Q.A. Ngo, X. Xu, Existence results for the Einstein-scalar field Lichnerowicz equations on compact Riemannian manifolds in the null case, Comm. Math. Phys. 334 (2015) 193–222.

4. R. Gicquaud, Q.A. Ngo, A new point of view on the solutions to the Einstein constraint equations with arbitrary mean curvature and small TT-tensor, Classical Quantum Gravity 31 (2014) 95014 (20pp).

5. Q.A. Ngo, H. Zhang, Prescribed Webster scalar curvature on compact CR manifolds with negative conformal invariants, J. Differential Equations 258 (2015) 4443–4490.

Cụm công trình của TS. Ngô Quốc Anh:

1. J. Miná\v c and N. D. Tân, Triple Massey products and Galois theory, J. Eur. Math. Soc. 19 (2017), 255-284.

2. J. Miná\v c and N. D. Tân, The Kernel Unipotent Conjecture and Massey products on an odd rigid field, (with an Appendix written by I. Efrat, J. Miná\v c and N. D. Tân), Adv. Math. 273 (2015), 242-270.

3. J. Miná\v c and N. D. Tân, Triple Massey products vanish over all fields, J. London Math. Soc. 94 (2016), 909-932.

4. J. Miná\v c and N. D. Tân, Construction of unipotent Galois extensions and Massey products, Adv. Math. 304 (2017), 1021-1054.

 

Theo http://math.ac.vn

Nghiên cứu sinh (NCS) người Đức bảo vệ thành công Luận án Tiến sỹ cấp ĐHQGHN - chuyên ngành Hóa môi trường

Lễ Bảo vệ Luận án Tiến sỹ cấp ĐHQGHN của Nghiên cứu sinh (NCS) người Đức chuyên ngành Hóa môi trường: “Đóng góp cho hệ thống đo lường trực tuyến để điều tra sự độc hại của nước thải đối với bùn hoạt tính”.

Ngày 29/03/2018, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHKHTN), ĐHQGHN đã diễn ra Lễ bảo vệ Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hóa môi trường của NCS Ferdinand Friedrichs đến từ CHLB Đức. Đề tài của anh là: “Đóng góp cho hệ thống đo lường trực tuyến để điều tra sự độc hại của nước thải đối với bùn hoạt tính” (Contributions to Online Measurement Systems for the investigation of Wastewater Toxicity on Activated Sludge).

Hội đồng bảo vệ Luận án tiến sĩ do GS.TS. Nguyễn Văn Nội - Hiệu trưởng Trường ĐHKHTN làm Chủ tịch Hội đồng. Hội đồng còn có các thành viên sau: GS.TS. Lê Quốc Hùng - Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; GS.TS. Karl-Ulrich Rudolph - Giám đốc điều hành Viện kỹ thuật và quản lý môi trường - Witten/Herdecke University (IEEM); TS. Nguyễn Hùng Minh - Tổng cục Môi trường Việt Nam; PGS.TS. Dương Hồng Anh - VNU-HUS; TS. Lê Trọng Lư - Viện Kỹ thuật nhiệt đới; PGS.TS. Từ Bình Minh - VNU-HUS.

NCS Ferdinand Friedrichs đến từ LAR Process Analyzer AG đã được nhận vào chương trình đào tạo tiến sĩ về Hóa Môi trường từ năm 2013 đến năm 2016. Sau khi hoàn thành khóa học, NCS Ferdinand Friedrichs thực hiện luận án dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Đỗ Quang Trung (ĐHKHTN) và TS. Wolfgang Genthe (LAR Process Analyzer AG), NCS Ferdinand Friedrichs đã vượt qua kỳ kiểm tra ban đầu và luận án đã được các nhà phê bình đánh giá, đề nghị bảo vệ ở vòng chung kết.

Luận án tiến sĩ của NCS Ferdinand Friedrichs được các nhà chuyên môn cũng như thành viên Hội đồng bảo vệ luận án đánh giá cao với khả năng ứng dụng thực tiễn tại Việt Nam và trên thế giới. Tất cả các giám định viên đồng ý rằng các kết quả nghiên cứu thử nghiệm hô hấp kích hoạt bùn trực tuyến không bị trùng lặp so với các ấn phẩm khác tại Việt Nam. Việc áp dụng hệ thống Nitritox và Biomonitor để theo dõi nước thải tại 7 khu công nghiệp trên khắp Việt Nam chưa được công bố ở Việt Nam và các nước khác. “Các nghiên cứu tương tự đã được áp dụng trên thế giới, tuy nhiên nghiên cứu để tăng độ nhạy của thử nghiệm ức chế và sử dụng Nitritox để theo dõi xử lý nước thải trong các khu công nghiệp Việt Nam là nghiên cứu và ứng dụng mới", PGS.TS. Trần Hồng Côn - ĐHKHTN và TS. Trịnh Anh Đức - Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam nhận xét.

Tóm tắt các kết quả mới của luận án:

- Độ nhạy của thí nghiệm ức chế hô hấp bùn hoạt tính có thể được tăng lên bằng cách thay đổi dung dịch dinh dưỡng, pH, nhiệt độ, nồng độ sinh khối, thời gian ủ và nồng độ ôxy trong thiết bị lên men.

- Việc thay thế dung dịch dinh dưỡng là nước thải tổng hợp bằng natri axetat làm tăng độc tính. Điều này có thế lý giải bằng việc tạo thành của phức chất kim loại nặng với các thành phần có trong nước thải tổng hợp, đặc biệt là peptone. Phức chất kim loại nặng – peptone có độc tính thấp hơn so với kim loại nặng khi có sự hiện diện của natri axetat.

- Một hệ thống theo dõi trực tuyến chất độc của nước thải lần đầu tiên được ứng dụng tại Việt Nam. Một loạt hoạt động đo đạc đánh giá ở bảy khu công nghiệp trong cả nước đã được tiến hành. Việc quan trắc đã chỉ ra rằng độc tính từ các hợp chất nitrit đã xảy ra ở năm trong tổng số các khu công nghiệp được tiến hành.

Khả năng ứng dụng thực tiễn:

- Với thiết bị phân tích trực tuyến BOC Biomonitor, một ứng dụng mới đã được phát triển để đo thành công hiện tượng ức chế hô hấp của bùn hoạt tính. Do đó, phạm vi ứng dụng của Biomonitor được tăng lên, có tầm quan trọng về kinh tế đối với các thiết bị phân tích LAR, với phát triển mới này hứa hẹn sẽ tác động tích cực đến doanh thu.

- Nghiên cứu này đã thành công trong việc tăng độ nhạy của thử nghiệp về ức chế hô hấp bùn hoạt tính. Cải tiến này rất phù hợp với việc phát triển một hệ thống cảnh báo sớm mà có thể phát hiện ra các dòng chảy độc hại ở WWTP sớm hơn và ở nồng độ thấp hơn.

- Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, thử nghiệm ức chế hô hấp bùn hoạt tính được tiến hành với việc sử dụng lần đầu tiên một điện cực ORP. Do đó, điện cực ORP có thể được ứng dụng như một đầu dò cho ức chế hô hấp bùn hoạt tính.

Labshare: “Uber” của các phòng thí nghiệm

LabShare - mạng lưới kết nối và chia sẻ nguồn tài nguyên khoa học - sẽ giúp bạn tìm được thiết bị nghiên cứu và cơ sở đo mẫu phù hợp với nhu cầu, tăng hiệu quả sử dụng cho các trang thiết bị nhàn rỗi trong lab của bạn.

Các thành viên trong dự án Labshare. Ảnh: KH&PT

Mối lo thiếu trang thiết bị nghiên cứu

Ý tưởng về một mô hình có khả năng giúp các nhà khoa học tìm được thiết bị phục vụ nghiên cứu đến với TS. Hà Minh Ngọc, giảng viên khoa Hóa học, trường Đại học KHTN (ĐHQGHN) khi anh và các đồng nghiệp cần làm một số mẫu phân tích nhưng phòng thí nghiệm ở khoa không có đủ thiết bị. Cũng như cách nhiều đồng nghiệp khác vẫn làm, anh phải gửi mẫu tới một số nơi khác nhưng lại mất rất nhiều thời gian tìm kiếm vì “không biết chính xác chỗ nào có thiết bị mình cần”, anh kể. Vì thế, TS. Hà Minh Ngọc mới nảy ra suy nghĩ: “Tại sao không xây một mạng lưới liên kết các phòng thí nghiệm để mọi người có thể dễ dàng tìm kiếm thiết bị mình cần hơn?”

Cách đây 3 tháng, anh mới có cơ hội để thực hiện nó một cách nghiêm túc khi tham gia lớp học ĐMST do ĐHQGHN tổ chức hồi tháng 8 và được chuyên gia Nguyễn Đặng Tuấn Minh – một mentor có nhiều kinh nghiệm về khởi nghiệp và là giảng viên lớp học, đánh giá ý tưởng của anh là “một ý tưởng rất thú vị và nhiều tiềm năng”. Với sự hỗ trợ của mentor Tuấn Minh, kết hợp với bạn bè và “tự mày mò”, dự án Labshare đã thành hình.

Trong quá trình chuẩn bị, TS. Ngọc và 9 thành viên của dự án Labshare đã tìm hiểu các mô hình tương tự ở Việt Nam và trên thế giới và thấy, ở các nước phát triển – vốn rất đầy đủ về trang thiết bị, cũng có những mô hình chia sẻ tương tự, nổi bật có sáng kiến labshare của Úc và nền tảng “Yikexue” của Trung Quốc. Ưu điểm của Yikexue là cung cấp dịch vụ nhanh chóng và thuận tiện cho người dùng. Tuy nhiên, do chỉ tập trung vào cung cấp dịch vụ nên Yikexue không có nhiều đóng góp về hoạt động khoa học.

Trong một bài viết trên tạp chí Tia Sáng năm 2017, TS. Trần Đình Phong, trưởng khoa Khoa học cơ bản (ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội USTH) cũng từng nhận xét về vấn đề này: “Ở Việt Nam, vẫn tồn tại chuyện cứ chuyển mẫu, trả tiền và nhận kết quả. Đấy là dịch vụ chứ không phải hợp tác làm khoa học. Chúng ta khó mà làm được khoa học đích thực với cách làm dịch vụ đó”. Như vậy, bài toán đặt ra cho Labshare là làm sao cung cấp được các dịch vụ cần thiết cho nghiên cứu, nhưng vẫn đảm bảo giữ được “chất” khoa học?

Để giải quyết câu hỏi này, TS. Ngọc đã kết hợp cả hai tính năng trên cho Labshare: vừa cung cấp các dịch vụ phân tích hoặc cho thuê thiết bị trong nghiên cứu, tư vấn chuyên gia - tương tự với Yikexue, lại vừa là nền tảng kết nối các nhà khoa học nhằm trao đổi học thuật, hợp tác nghiên cứu hoặc hỗ trợ các cá nhân tổ chức khi mới bắt đầu vào lĩnh vực này. Với tính năng thứ hai, Labshare sẽ đóng vai trò cầu nối trung gian để các bên tìm đến hợp tác với nhau và sẽ không thu bất cứ khoản phí nào cả.

Để kết nối các phòng thí nghiệm, một mặt TS. Ngọc đã chủ động liên hệ với các phòng thí nghiệm này qua các thông tin trên internet hoặc nhờ bạn bè, người quen giới thiệu, mặt khác anh và đồng nghiệp xây dựng website Labshare và mở trang trên các mạng xã hội như facebook, zalo,... để những nơi có nhu cầu kết nối có thể tự tìm đến.

Hiện nay, ở Việt Nam cũng có một số nơi xây dựng cơ sở dữ liệu về các phòng thí nghiệm – tương tự sáng kiến labshare của Úc và một số trung tâm cung cấp các dịch vụ phân tích, nhưng chưa ai nghĩ đến việc kết nối và đặc biệt là kết nối trên quy mô toàn quốc như Labshare.

Mở mạng lưới kết nối đầu tiên

TS. Ngọc đã xác định các nội dung hoạt động chính của Labshare: dịch vụ cho thuê thiết bị nghiên cứu, đặt hàng phân tích mẫu và tư vấn chuyên gia. Sau 3 tháng không ngừng nỗ lực, Labshare cũng thu được những thành quả bước đầu. Với 19 đơn vị được kết nối, trong đó có 6 phòng thí nghiệm chuẩn Vilas và có 4 đơn vị tư nhân, phần lớn là các phòng thí nghiệm thuộc những viện, trường có nhiều trang thiết bị và quy tụ nhiều nhà khoa học giàu kinh nghiệm tại ĐH KHTN, ĐH Công nghệ, ĐH Bách khoa, Viện KH&CN Quân sự, Viện KH Vật liệu (Viện Hàn lâm KH&CN VN)…

Từ lúc bắt đầu xây dựng từ tháng 8 đến nay, Labshare đã giải quyết thành công hơn 20 đơn đặt hàng, chủ yếu là ở Hà Nội – do đa số các phòng thí nghiệm đã được kết nối nằm ở Hà Nội nên được nhiều người ở đây biết đến hơn.

Đối tượng tìm đến Labshare rất đa dạng, từ sinh viên, nghiên cứu sinh, nhà khoa học, doanh nghiệp,… thậm chí cả người dân bình thường, không hoạt động về nghiên cứu cũng đã từng liên hệ với Labshare. TS. Ngọc kể lại câu chuyện về một khách hàng đặc biệt đã tìm đến với Labshare - một bác nông dân trồng rau sạch ở Ba Vì. Trước khi triển khai dự án, nhóm cũng thực hiện phân tích đối tượng khách hàng tiềm năng nhưng không ngờ riêng đối tượng này thì “chưa từng ngờ đến”. Bác đã mua thuốc trừ sâu sinh học, áp dụng mọi quy trình trồng rau sạch nhưng vẫn phân vân không biết rau mình trồng có thực sự đảm bảo không, do đó bác tìm đến Labshare qua lời giới thiệu của con gái. “Mình chưa bao giờ làm về mảng này nhưng vẫn cố gắng tìm hiểu để tư vấn cho bác”, anh Ngọc cho biết. Nhờ đó anh cũng phát hiện được rằng không chỉ nhà khoa học mà “người dân cũng có nhu cầu sử dụng dịch vụ của Labshare”.

Để Labshare đi được “đường dài”

TS. Ngọc cho biết, phần lớn các đối tác và khách hàng của Labshare đều phản hồi, “mong muốn nhanh chóng xây dựng Labshare theo hướng thương mại điện tử” tạo thêm chuyên mục về những vấn đề thường gặp để khách hàng lựa chọn. Nếu không tìm thấy câu trả lời trên nền tảng, khách hàng mới chuyển sang liên hệ trực tiếp. Tuy nhiên, để làm được điều này TS. Ngọc cho biết “sẽ mất rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc” trong khi các thành viên trong nhóm đều là giảng viên ở các trường đại học nên không thể dành trọn thời gian cho Labshare – một trong những thách thức đã được mentor Nguyễn Đặng Tuấn Minh chỉ ngay ra khi nghe TS. Ngọc trình bày ý tưởng.

Một hạn chế của Labshare là chưa có tư cách pháp nhân để có thể hoạt động một cách độc lập, ví dụ như chưa thể ký hợp đồng giao dịch, xuất “hóa đơn đỏ” theo yêu cầu của khách hàng nên trong các giao dịch hiện nay, họ vẫn phải “nhờ” các đơn vị thuộc mạng lưới đứng tên trong hợp đồng.

Là người theo dõi Labshare từ ngày mới manh nha hình thành, mentor Nguyễn Đặng Tuấn Minh đánh giá dự án có ưu điểm là giúp “tiết kiệm rất nhiều nguồn lực và mang lại lợi ích cho xã hội theo hướng win-win-win (cả nhà nước, nhà khoa học và xã hội đều được lợi)”, thậm chí “nếu thực sự được phát triển, sẽ còn nhiều hướng đi mới mẻ cho dự án để nó có thể đáp ứng nhu cầu thị trường lớn hơn nữa ngoài phạm vi trường đại học, viện nghiên cứu”.

Với tiềm năng phát triển như vậy, nhưng anh Ngọc cho biết, những tiềm năng đó của Labshare vẫn chưa đủ sức thuyết phục các nhà đầu tư và doanh nghiệp bởi họ “muốn nhìn thấy kết quả rõ ràng hơn, hứa hẹn sinh lợi nhuận hơn”. Vì thế, trong thời gian tới, anh sẽ tiếp tục “gõ cửa” các doanh nghiệp hoặc các quỹ đầu tư để thuyết phục họ và hỏi thêm một số chuyên gia để chuẩn bị cho việc xây dựng nền tảng công nghệ cho Labshare.

TS. Ngọc muốn kết hợp thêm cho Labshare tính năng phòng thí nghiệm điều khiển từ xa - khách hàng có thể thuê các thiết bị và điều khiển qua máy tính. Phương thức này sẽ đáp ứng nhu cầu của một số khách hàng muốn giữ kín thông số trong quá trình làm thí nghiệm.


Theo Khoa học và phát triển]

 
Labshare: “Uber” của các phòng thí nghiệm

LabShare - mạng lưới kết nối và chia sẻ nguồn tài nguyên khoa học - sẽ giúp bạn tìm được thiết bị nghiên cứu và cơ sở đo mẫu phù hợp với nhu cầu, tăng hiệu quả sử dụng cho các trang thiết bị nhàn rỗi trong lab của bạn.

Các thành viên trong dự án Labshare. Ảnh: KH&PT

Mối lo thiếu trang thiết bị nghiên cứu

Ý tưởng về một mô hình có khả năng giúp các nhà khoa học tìm được thiết bị phục vụ nghiên cứu đến với TS. Hà Minh Ngọc, giảng viên khoa Hóa học, trường Đại học KHTN (ĐHQGHN) khi anh và các đồng nghiệp cần làm một số mẫu phân tích nhưng phòng thí nghiệm ở khoa không có đủ thiết bị. Cũng như cách nhiều đồng nghiệp khác vẫn làm, anh phải gửi mẫu tới một số nơi khác nhưng lại mất rất nhiều thời gian tìm kiếm vì “không biết chính xác chỗ nào có thiết bị mình cần”, anh kể. Vì thế, TS. Hà Minh Ngọc mới nảy ra suy nghĩ: “Tại sao không xây một mạng lưới liên kết các phòng thí nghiệm để mọi người có thể dễ dàng tìm kiếm thiết bị mình cần hơn?”

Cách đây 3 tháng, anh mới có cơ hội để thực hiện nó một cách nghiêm túc khi tham gia lớp học ĐMST do ĐHQGHN tổ chức hồi tháng 8 và được chuyên gia Nguyễn Đặng Tuấn Minh – một mentor có nhiều kinh nghiệm về khởi nghiệp và là giảng viên lớp học, đánh giá ý tưởng của anh là “một ý tưởng rất thú vị và nhiều tiềm năng”. Với sự hỗ trợ của mentor Tuấn Minh, kết hợp với bạn bè và “tự mày mò”, dự án Labshare đã thành hình.

Trong quá trình chuẩn bị, TS. Ngọc và 9 thành viên của dự án Labshare đã tìm hiểu các mô hình tương tự ở Việt Nam và trên thế giới và thấy, ở các nước phát triển – vốn rất đầy đủ về trang thiết bị, cũng có những mô hình chia sẻ tương tự, nổi bật có sáng kiến labshare của Úc và nền tảng “Yikexue” của Trung Quốc. Ưu điểm của Yikexue là cung cấp dịch vụ nhanh chóng và thuận tiện cho người dùng. Tuy nhiên, do chỉ tập trung vào cung cấp dịch vụ nên Yikexue không có nhiều đóng góp về hoạt động khoa học.

Trong một bài viết trên tạp chí Tia Sáng năm 2017, TS. Trần Đình Phong, trưởng khoa Khoa học cơ bản (ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội USTH) cũng từng nhận xét về vấn đề này: “Ở Việt Nam, vẫn tồn tại chuyện cứ chuyển mẫu, trả tiền và nhận kết quả. Đấy là dịch vụ chứ không phải hợp tác làm khoa học. Chúng ta khó mà làm được khoa học đích thực với cách làm dịch vụ đó”. Như vậy, bài toán đặt ra cho Labshare là làm sao cung cấp được các dịch vụ cần thiết cho nghiên cứu, nhưng vẫn đảm bảo giữ được “chất” khoa học?

Để giải quyết câu hỏi này, TS. Ngọc đã kết hợp cả hai tính năng trên cho Labshare: vừa cung cấp các dịch vụ phân tích hoặc cho thuê thiết bị trong nghiên cứu, tư vấn chuyên gia - tương tự với Yikexue, lại vừa là nền tảng kết nối các nhà khoa học nhằm trao đổi học thuật, hợp tác nghiên cứu hoặc hỗ trợ các cá nhân tổ chức khi mới bắt đầu vào lĩnh vực này. Với tính năng thứ hai, Labshare sẽ đóng vai trò cầu nối trung gian để các bên tìm đến hợp tác với nhau và sẽ không thu bất cứ khoản phí nào cả.

Để kết nối các phòng thí nghiệm, một mặt TS. Ngọc đã chủ động liên hệ với các phòng thí nghiệm này qua các thông tin trên internet hoặc nhờ bạn bè, người quen giới thiệu, mặt khác anh và đồng nghiệp xây dựng website Labshare và mở trang trên các mạng xã hội như facebook, zalo,... để những nơi có nhu cầu kết nối có thể tự tìm đến.

Hiện nay, ở Việt Nam cũng có một số nơi xây dựng cơ sở dữ liệu về các phòng thí nghiệm – tương tự sáng kiến labshare của Úc và một số trung tâm cung cấp các dịch vụ phân tích, nhưng chưa ai nghĩ đến việc kết nối và đặc biệt là kết nối trên quy mô toàn quốc như Labshare.

Mở mạng lưới kết nối đầu tiên

TS. Ngọc đã xác định các nội dung hoạt động chính của Labshare: dịch vụ cho thuê thiết bị nghiên cứu, đặt hàng phân tích mẫu và tư vấn chuyên gia. Sau 3 tháng không ngừng nỗ lực, Labshare cũng thu được những thành quả bước đầu. Với 19 đơn vị được kết nối, trong đó có 6 phòng thí nghiệm chuẩn Vilas và có 4 đơn vị tư nhân, phần lớn là các phòng thí nghiệm thuộc những viện, trường có nhiều trang thiết bị và quy tụ nhiều nhà khoa học giàu kinh nghiệm tại ĐH KHTN, ĐH Công nghệ, ĐH Bách khoa, Viện KH&CN Quân sự, Viện KH Vật liệu (Viện Hàn lâm KH&CN VN)…

Từ lúc bắt đầu xây dựng từ tháng 8 đến nay, Labshare đã giải quyết thành công hơn 20 đơn đặt hàng, chủ yếu là ở Hà Nội – do đa số các phòng thí nghiệm đã được kết nối nằm ở Hà Nội nên được nhiều người ở đây biết đến hơn.

Đối tượng tìm đến Labshare rất đa dạng, từ sinh viên, nghiên cứu sinh, nhà khoa học, doanh nghiệp,… thậm chí cả người dân bình thường, không hoạt động về nghiên cứu cũng đã từng liên hệ với Labshare. TS. Ngọc kể lại câu chuyện về một khách hàng đặc biệt đã tìm đến với Labshare - một bác nông dân trồng rau sạch ở Ba Vì. Trước khi triển khai dự án, nhóm cũng thực hiện phân tích đối tượng khách hàng tiềm năng nhưng không ngờ riêng đối tượng này thì “chưa từng ngờ đến”. Bác đã mua thuốc trừ sâu sinh học, áp dụng mọi quy trình trồng rau sạch nhưng vẫn phân vân không biết rau mình trồng có thực sự đảm bảo không, do đó bác tìm đến Labshare qua lời giới thiệu của con gái. “Mình chưa bao giờ làm về mảng này nhưng vẫn cố gắng tìm hiểu để tư vấn cho bác”, anh Ngọc cho biết. Nhờ đó anh cũng phát hiện được rằng không chỉ nhà khoa học mà “người dân cũng có nhu cầu sử dụng dịch vụ của Labshare”.

Để Labshare đi được “đường dài”

TS. Ngọc cho biết, phần lớn các đối tác và khách hàng của Labshare đều phản hồi, “mong muốn nhanh chóng xây dựng Labshare theo hướng thương mại điện tử” tạo thêm chuyên mục về những vấn đề thường gặp để khách hàng lựa chọn. Nếu không tìm thấy câu trả lời trên nền tảng, khách hàng mới chuyển sang liên hệ trực tiếp. Tuy nhiên, để làm được điều này TS. Ngọc cho biết “sẽ mất rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc” trong khi các thành viên trong nhóm đều là giảng viên ở các trường đại học nên không thể dành trọn thời gian cho Labshare – một trong những thách thức đã được mentor Nguyễn Đặng Tuấn Minh chỉ ngay ra khi nghe TS. Ngọc trình bày ý tưởng.

Một hạn chế của Labshare là chưa có tư cách pháp nhân để có thể hoạt động một cách độc lập, ví dụ như chưa thể ký hợp đồng giao dịch, xuất “hóa đơn đỏ” theo yêu cầu của khách hàng nên trong các giao dịch hiện nay, họ vẫn phải “nhờ” các đơn vị thuộc mạng lưới đứng tên trong hợp đồng.

Là người theo dõi Labshare từ ngày mới manh nha hình thành, mentor Nguyễn Đặng Tuấn Minh đánh giá dự án có ưu điểm là giúp “tiết kiệm rất nhiều nguồn lực và mang lại lợi ích cho xã hội theo hướng win-win-win (cả nhà nước, nhà khoa học và xã hội đều được lợi)”, thậm chí “nếu thực sự được phát triển, sẽ còn nhiều hướng đi mới mẻ cho dự án để nó có thể đáp ứng nhu cầu thị trường lớn hơn nữa ngoài phạm vi trường đại học, viện nghiên cứu”.

Với tiềm năng phát triển như vậy, nhưng anh Ngọc cho biết, những tiềm năng đó của Labshare vẫn chưa đủ sức thuyết phục các nhà đầu tư và doanh nghiệp bởi họ “muốn nhìn thấy kết quả rõ ràng hơn, hứa hẹn sinh lợi nhuận hơn”. Vì thế, trong thời gian tới, anh sẽ tiếp tục “gõ cửa” các doanh nghiệp hoặc các quỹ đầu tư để thuyết phục họ và hỏi thêm một số chuyên gia để chuẩn bị cho việc xây dựng nền tảng công nghệ cho Labshare.

TS. Ngọc muốn kết hợp thêm cho Labshare tính năng phòng thí nghiệm điều khiển từ xa - khách hàng có thể thuê các thiết bị và điều khiển qua máy tính. Phương thức này sẽ đáp ứng nhu cầu của một số khách hàng muốn giữ kín thông số trong quá trình làm thí nghiệm.


Theo Khoa học và phát triển]

 
Thư viện ảnh và video
TOP